Mặt dây chuyền thường được chia theo dáng: mặt tròn (kể cả mặt đồng xu), mặt giọt nước, mặt thanh dài, mặt trái tim, mặt hình học (vuông, lục giác, tam giác) và mặt cắt hình. Dáng không chỉ là chuyện đẹp xấu. Nó quyết định mặt nằm yên hay đung đưa, có hay bị lật không, chỗ nào trên mặt bị trầy trước, và sợi dây nào kéo nổi nó.
Bài này đi qua từng dáng ở góc người đeo hằng ngày: dáng đó trông thế nào khi nằm trên ngực, hợp dây ra sao, cần để ý gì khi chọn. Chuyện chọn cỡ mặt, móc treo và chuyện mặt bị lật có bài riêng trong cùng danh mục; ý nghĩa may mắn của từng hình (con giáp, đồng tiền, tỳ hưu) thuộc các trang chuyên về biểu tượng nên ở đây chỉ nói cấu tạo và cách đeo.
Một mặt dây chuyền gồm những phần nào
Gọi chung là "mặt", nhưng một mặt dây chuyền kim loại thường có ba phần. Phần thân là phần bạn nhìn thấy, có thể trơn, chạm, đính đá. Phần móc treo, thợ hay gọi là khoen hoặc móc, dân bán hàng gọi theo tiếng Anh là bail, là chỗ sợi dây luồn qua. Giữa hai phần này đôi khi có thêm một khoen nối nhỏ để mặt xoay được hoặc để thay móc khi mòn.
Khi so các dáng, nên nhìn cả ba phần chứ không chỉ phần thân. Hai mặt tròn giống nhau về thân nhưng một chiếc có móc hàn liền, một chiếc treo qua khoen tròn, thì khi đeo trông khác hẳn: chiếc móc liền nằm phẳng sát da, chiếc treo khoen dễ quay mặt ra sau. Dáng thân lại quyết định trọng tâm. Mặt nặng phía dưới (giọt nước, trái tim đầy) có xu hướng tự đứng thẳng; mặt đều (tròn, vuông) dễ xoay; mặt dài và mỏng (thanh) dễ nghiêng sang một bên khi dây trượt.
Cũng nên phân biệt mặt dây chuyền với dây chuyền liền mặt. Mặt rời luồn được vào dây khác, đổi được. Dây liền mặt là mặt được gắn cố định vào hai đầu dây, không tháo ra được nếu không nhờ thợ. Bài này nói về mặt rời là chính, vì đó là thứ người mua thường phải tự chọn dáng và tự ghép dây.
Bảng so các dáng mặt dây chuyền phổ biến
Bảng dưới xếp các dáng hay gặp ở tiệm vàng và tiệm trang sức kim loại. Nhận xét là xu hướng chung khi đeo hằng ngày; mỗi món cụ thể còn phụ thuộc độ dày, móc treo và sợi dây.
| Dáng | Khi nằm trên ngực | Hay gặp chuyện gì | Hợp với dây |
|---|---|---|---|
| Tròn, đồng xu | Nằm phẳng, nhìn cân từ mọi phía | Dễ xoay mặt sau ra trước nếu mặt hai mặt khác nhau | Dây mắt tròn, dây bi, dây rolo vừa phải |
| Giọt nước | Tự đứng thẳng, kéo nhìn theo chiều dọc | Đầu nhọn phía dưới dễ móp nếu là mặt rỗng | Dây mảnh đến vừa, độ dài chạm xương quai xanh hoặc thấp hơn |
| Thanh dài (bar dọc) | Kéo dài cổ, gọn | Nghiêng khi dây trượt lệch; mép thanh cấn khi nằm nghiêng | Dây mảnh, dây hộp nhỏ |
| Thanh ngang | Nằm sát hõm cổ, như một vạch ngang | Treo hai đầu nên ít lật nhưng khó thay dây | Thường là dây liền mặt |
| Trái tim | Mềm, nữ tính, trọng tâm ở đáy | Mặt đầy thì nặng hơn bạn tưởng; mũi tim dễ cọ áo | Dây vừa, khoá chắc |
| Hình học (vuông, lục giác, tam giác) | Cứng cáp, góc cạnh rõ | Góc nhọn móc vào sợi len, ren áo | Dây hộp, dây rắn, dây có độ cứng |
| Cắt hình, khung rỗng giữa | Nhẹ, thoáng, nhìn xuyên được | Nan mảnh dễ cong nếu bị đè | Dây mảnh, đeo ngắn |
Đọc bảng theo cột giữa trước: nếu bạn ít khi tháo dây, hay làm việc tay chân hoặc hay mặc áo len, chuyện "hay gặp" mới là thứ ảnh hưởng tới bạn mỗi ngày, còn vẻ ngoài thì dáng nào cũng có cách làm đẹp.
Mặt tròn và mặt đồng xu: dáng dễ đeo nhất
Mặt tròn là dáng phổ thông vì nhìn từ góc nào cũng cân. Mặt tròn trơn, mặt đồng xu chạm nổi, mặt tròn có khung đính đá nhỏ ở giữa đều thuộc nhóm này. Ưu điểm lớn của nó là không có "chiều" rõ ràng: lỡ mặt xoay nghiêng một chút thì người khác cũng khó nhận ra, khác hẳn mặt thanh dài hay mặt chữ.
Nhược điểm của mặt tròn nằm ở chuyện hai mặt. Nhiều mặt đồng xu có mặt trước chạm hình và mặt sau trơn hoặc có dấu khắc tuổi vàng. Khi mặt treo qua một khoen tròn, nó quay tự do, nên đi một lúc là mặt sau lộ ra. Nếu bạn muốn mặt trước luôn hướng ra ngoài, nên chọn mặt có móc hàn liền theo một mặt phẳng, hoặc chọn mặt trơn cả hai phía để quay chiều nào cũng như nhau.
Với mặt tròn lớn, độ dày đáng để hỏi. Một mặt rộng mà mỏng sẽ cong khi bị đè, ví dụ lúc nằm ngủ úp hoặc lúc bế con. Mặt dày hơn chắc hơn nhưng nặng hơn, kéo sợi dây mảnh xoắn lại. Mặt tròn chạm nổi thì phần nổi cao nhất sẽ mòn trước sau vài năm cọ vào vải áo; đó là hao mòn bình thường, không phải hàng kém, nhưng nên biết để không bất ngờ khi chi tiết hình chạm mờ dần.
Mặt giọt nước và mặt thanh dài: dáng kéo dọc
Mặt giọt nước có phần dưới to, phần trên thu nhỏ về móc treo, nên trọng tâm nằm thấp. Nhờ vậy nó gần như luôn tự đứng thẳng, ít khi lật. Đây là dáng an toàn cho người không muốn chỉnh mặt dây cả ngày. Điểm cần xem là đầu dưới: ở mặt giọt nước làm rỗng bằng vàng lá mỏng, phần bầu dưới là chỗ dễ móp nhất khi va vào cạnh bàn, cửa xe. Mặt đặc thì không lo chuyện này nhưng nặng hơn với cùng kích thước.
Mặt thanh dài treo dọc là dáng của người thích gọn. Nó vẽ một đường thẳng trên ngực, nhìn cổ có vẻ dài hơn, đi với áo cổ tim hay sơ mi mở cúc đều ổn. Điều khó chịu nhất với mặt thanh là chuyện nghiêng: chỉ cần sợi dây trượt lệch sang một bên, thanh sẽ nằm chéo và rất dễ nhận ra. Mặt thanh có móc treo dạng ống, cho dây luồn ngang qua đầu thanh, thường đứng thẳng hơn mặt treo bằng một khoen tròn nhỏ.
Mặt thanh ngang là một biến thể khác hẳn: thanh nằm ngang, hai đầu nối thẳng vào hai nhánh dây. Kiểu này gần như không lật, nằm gọn ở hõm cổ, rất hợp với mặt khắc chữ ngắn. Đổi lại, nó thường là dây liền mặt; muốn thay dây phải nhờ thợ tháo khoen hai đầu, và chiều dài dây gần như cố định từ lúc mua.
Mặt trái tim, mặt hình học và mặt cắt hình
Mặt trái tim nặng hơn vẻ ngoài. Trái tim đầy đặn có nhiều kim loại dồn ở hai thuỳ và mũi dưới. Cùng chiều cao với một mặt giọt nước, mặt trái tim đặc thường nặng hơn rõ. Nếu định đeo trên dây mảnh, nên chọn tim rỗng giữa (chỉ có viền) hoặc tim mỏng dập nổi.
Mũi trái tim là điểm chạm. Phần mũi nhọn ở đáy là chỗ cọ vào áo nhiều nhất, dễ mòn và dễ móc vào sợi vải dệt thưa. Mũi bo tròn nhẹ đeo êm hơn mũi vuốt nhọn.
Mặt hình học cần dây có "xương". Mặt vuông, lục giác, tam giác nhìn đẹp nhất khi nằm phẳng. Dây mắt tròn mềm làm mặt hình học dễ nghiêng; dây hộp hay dây rắn có độ cứng giữ mặt ổn định hơn.
Góc nhọn và áo len không hợp nhau. Mặt hình học có cạnh sắc dễ kéo sợi ở áo len, áo ren. Nếu bạn hay mặc các loại vải này, chọn mặt có góc vê tròn hoặc đeo mặt ra ngoài cổ áo.
Mặt cắt hình thì nhẹ mà mảnh. Mặt có khoảng rỗng ở giữa, khung hoa, khung lá, khung hình học, cho cảm giác thoáng và nhẹ. Nan càng mảnh càng dễ cong khi bị đè hoặc vướng. Trước khi mua, nhìn nghiêng mặt để thấy độ dày nan, không chỉ nhìn chính diện.
Mặt hai lớp có chỗ đọng bẩn. Một số mặt làm hai lớp chồng lên nhau, có khe nhỏ ở giữa. Khe đó đọng mồ hôi, xà phòng và cần vệ sinh kỹ hơn mặt một lớp.
Bề mặt trơn, nhám hay chạm nổi: quyết định chỗ trầy
Mặt bóng gương. Bóng loáng lúc mới mua, nhưng mọi vết xước nhỏ đều lộ rõ dưới ánh sáng. Đeo vài tháng sẽ có một lớp xước mịn, gọi là "lên nước" cũng được, gọi là trầy cũng được. Tiệm có thể đánh bóng lại, mỗi lần đánh bóng mất một chút kim loại rất mỏng.
Mặt nhám, phun cát, chải xước. Giấu xước tốt hơn mặt bóng vì bản thân bề mặt đã có vân. Nhược điểm là chỗ hay cọ (mép, điểm cao) sẽ dần bóng lên, tạo vệt sáng không đều. Muốn đều lại thì phải làm nhám lại ở tiệm.
Mặt chạm nổi. Chi tiết nổi đẹp ở chỗ có bóng đổ, nhưng phần cao nhất mòn trước. Hình chạm sâu giữ được lâu hơn hình chạm nông.
Mặt khắc chìm, phay. Đường phay (vân cắt lấp lánh) cho mặt dây "bắt sáng" như đính đá. Đường phay càng sắc càng đẹp nhưng cũng là chỗ bụi bẩn bám, cần chải nhẹ khi vệ sinh.
Mặt xi phủ. Mặt vàng trắng thường có lớp xi màu trắng phủ ngoài. Lớp này mòn ở các điểm chạm trước, để lộ màu hơi ngả vàng của hợp kim bên dưới. Chuyện xi lại thuộc phần chất liệu, nhưng khi chọn dáng nên biết: dáng có nhiều cạnh lồi sẽ lộ màu sớm hơn dáng tròn trơn.
Chọn dáng theo cách bạn đeo mỗi ngày
Thay vì hỏi dáng nào đẹp nhất, hỏi dáng nào hợp thói quen của mình sẽ ra câu trả lời nhanh hơn:
- Ít khi tháo, đeo cả lúc ngủ: mặt tròn trơn hoặc giọt nước nhỏ, móc liền, không góc nhọn, không khe hai lớp.
- Muốn mặt luôn đúng chiều: giọt nước, trái tim có trọng tâm thấp, hoặc thanh ngang nối hai đầu.
- Hay mặc áo len, áo ren: tránh mặt hình học góc nhọn và mặt cắt hình có nan mảnh.
- Làm việc hay cúi người (bếp, chăm trẻ, bán hàng): mặt nhỏ, nằm ngắn trên cổ, ít đung đưa; mặt dài lơ lửng dễ đập vào đồ vật.
- Muốn khắc chữ: mặt tròn trơn, thanh ngang hoặc thanh dọc có mặt phẳng đủ rộng; tránh mặt cong nhiều.
- Đeo chồng với dây khác: chọn dáng khác nhau cho mỗi tầng (một tròn, một thanh) để các mặt không lẫn vào nhau.
Nếu vẫn phân vân giữa hai dáng, hãy đeo thử cả hai trên cùng một sợi dây, đứng trước gương rồi cúi người, quay đầu vài lần. Dáng nào vẫn nằm đúng chỗ sau mấy động tác đó là dáng hợp với cách bạn cử động.
Câu hỏi thường gặp
Dáng mặt dây chuyền nào ít bị lật nhất?
Mặt có trọng tâm thấp như giọt nước hoặc trái tim đầy, và mặt thanh ngang nối hai đầu vào dây, là những dáng ít lật nhất. Mặt tròn hai mặt khác nhau treo qua khoen tròn là dáng dễ quay mặt sau ra ngoài nhất.
Mặt dây chuyền tròn có dễ bị trầy không?
Mặt tròn bóng gương sẽ lộ vết xước mịn sau vài tháng đeo, đó là hao mòn bình thường. Nếu ngại thấy xước, chọn mặt nhám hoặc chải xước, hoặc chấp nhận đem đánh bóng lại ở tiệm định kỳ, mỗi lần đánh bóng chỉ mất một lớp kim loại rất mỏng.
Mặt dây chuyền hình học có hợp đeo hằng ngày không?
Hợp nếu góc được vê tròn và bạn không mặc áo len, áo ren thường xuyên. Mặt có góc sắc dễ kéo sợi vải và cấn da khi nằm. Nên chọn dây hộp hoặc dây có độ cứng để mặt hình học nằm phẳng, không nghiêng.
Mặt thanh dài treo dọc bị nghiêng phải làm sao?
Mặt thanh nghiêng thường do dây trượt lệch hoặc móc treo là một khoen tròn nhỏ cho mặt xoay tự do. Mặt có móc dạng ống hoặc móc dẹt cố định giữ thẳng tốt hơn. Bài về mặt dây bị lật trong cùng danh mục nói kỹ cách khắc phục.
Mặt trái tim nên chọn đặc hay rỗng giữa?
Tim đặc đầy đặn nhìn sang nhưng nặng, cần dây chắc. Tim rỗng giữa chỉ có viền thì nhẹ, hợp dây mảnh và đeo hằng ngày. Nếu chọn tim đặc mà làm rỗng bên trong, hãy cẩn thận với va chạm vì dễ móp ở hai thuỳ.
Mặt dây chuyền chạm nổi đeo lâu có bị mờ hình không?
Có, phần nổi cao nhất cọ vào vải áo và da nên mòn dần theo năm tháng, chi tiết nhỏ mờ trước. Hình chạm sâu giữ lâu hơn hình chạm nông. Đây là hao mòn tự nhiên của kim loại quý, không có cách giữ nguyên mãi ngoài việc đeo ít đi.