Mặt dây chuyền chữ cái có hai nhóm chính: mặt một chữ cái đầu (thường là chữ đầu của tên mình hoặc người thân) và mặt tên cắt nguyên chữ, trong đó cả cái tên được cưa hoặc cắt thành một khối kim loại liền. Cả hai đều đẹp ở chỗ riêng tư, nhưng cũng là nhóm mặt hay gặp chuyện nhất: chữ nghiêng, chữ đọc ngược khi lật, dấu tiếng Việt gãy.
Bài này giúp bạn chọn kiểu chữ, hiểu vì sao một số chữ cái khó đeo hơn chữ khác, quyết định có làm dấu hay không, và chuẩn bị đầy đủ khi đặt làm. Chuyện khắc chữ lên mặt trơn (khắc tay, khắc laser) là đề tài khác, ở đây chỉ nói chữ được cắt thành hình.
Mặt chữ cái đơn và mặt tên: khác nhau ở đâu
Mặt chữ cái đơn là một ký tự đứng riêng, có khi được đặt trong khung tròn, khung oval, có khi đứng trơ trọi treo qua một móc nhỏ. Vì chỉ một ký tự, nó gọn, đeo được với hầu hết trang phục, và hợp để đeo chồng với một dây khác. Nhiều người đeo chữ cái đầu của tên con, tên người thương thay vì tên mình, nên nó cũng là kiểu mặt làm quà phổ biến.
Mặt tên cắt chữ là cả một chữ, từ ba bốn ký tự trở lên, được cắt liền nhau từ một tấm kim loại. Ở các tiệm, người ta hay gọi là dây chuyền tên. Kiểu này thường treo hai đầu vào dây, tức là dây liền mặt, để tên nằm ngang và đọc được. Chữ càng dài thì mặt càng rộng, càng cần dây có độ chắc và cần cổ áo đủ mở để tên không bị che.
Hai nhóm này khác hẳn về độ bền. Mặt chữ đơn ít điểm yếu, chủ yếu ở móc treo. Mặt tên có nhiều chỗ nối giữa các chữ, nhiều nét mảnh và nhiều chi tiết nhô ra như đuôi chữ, dấu, nên khi bị đè hay vướng là cong ở những chỗ đó trước. Chọn kiểu nào là chọn giữa sự kín đáo, dễ đeo và sự nổi bật, cá nhân hoá rõ ràng.
Còn một khác biệt nữa ở khâu làm. Mặt chữ cái đơn thường có sẵn ở tiệm, chọn xong là đeo. Mặt tên hầu như luôn phải đặt làm theo đơn, vì mỗi người một tên, nên bạn phải duyệt bản vẽ, chờ vài ngày, và chấp nhận rằng đồ làm riêng khó đổi trả hơn đồ có sẵn.
Các kiểu chữ hay gặp và độ bền của từng kiểu
Kiểu chữ không chỉ là chuyện thẩm mỹ. Nét chữ dày hay mảnh, nối hay rời quyết định món đồ chịu va chạm đến đâu.
| Kiểu chữ | Dáng nhìn | Độ bền khi đeo hằng ngày | Hợp với |
|---|---|---|---|
| In hoa nét đậm | Rõ, khoẻ, dễ đọc từ xa | Cao: nét dày, ít chỗ mảnh | Chữ cái đơn, người thích gọn |
| In hoa có chân (kiểu chữ cổ điển) | Trang trọng, có gờ nhỏ ở đầu nét | Khá: chân chữ là chỗ dễ mòn tròn | Chữ cái đơn, mặt trong khung |
| In thường | Mềm, trẻ trung | Khá: các chữ có đuôi như g, y, j là điểm yếu | Tên ngắn |
| Viết tay nối liền | Bay bướm, như chữ ký | Trung bình: nhiều điểm nối mảnh giữa các chữ | Mặt tên, dây liền mặt |
| Chữ trong khung (đục thủng hoặc nổi) | Chữ nằm trong hình tròn, oval | Cao: khung bảo vệ nét chữ | Người hay làm việc tay chân |
| Chữ đính đá nhỏ | Lấp lánh dọc nét chữ | Tuỳ kiểu ổ giữ đá; đá nhỏ có thể rơi | Dịp đặc biệt hơn là đeo ngủ |
Nếu bạn định đeo mặt chữ cả ngày lẫn đêm, ưu tiên in hoa nét đậm hoặc chữ trong khung. Chữ viết tay nối liền đẹp nhất khi được làm đủ dày, và nên tháo khi ngủ, khi tập luyện.
Chữ nào dễ nghiêng, chữ nào dễ đọc ngược
Một chữ cái treo trên dây sẽ tự xoay về vị trí cân của nó. Chữ đối xứng hai bên như A, H, I, M, O, T, U, V, W, X, Y treo qua móc chính giữa thì đứng thẳng. Chữ lệch một bên như F, J, L, P, R, K có phần kim loại dồn về một phía, nên khi treo từ điểm giữa đỉnh chữ, nó nghiêng. Thợ giỏi sẽ đặt móc treo lệch về đúng trọng tâm của chữ, chứ không đặt ở giữa theo mắt nhìn, nhờ vậy chữ đứng thẳng.
Chuyện đọc ngược thì đáng để ý hơn với mặt chữ đơn không có khung. Khi mặt lật ra sau, chữ hiện ngược như nhìn qua gương. Một số chữ khi lật trông y hệt chữ khác: b thành d, p thành q. Chữ N lật lại thành chữ N ngược, nhìn lạ mắt. Chữ M và W, chữ n và u thì giống nhau khi lộn đầu, nhưng mặt treo khó lộn đầu nên chuyện này ít gặp. Với các chữ dễ nhầm khi lật, nên chọn móc cố định theo mặt phẳng hoặc móc ống, hoặc đặt chữ trong khung tròn có mặt sau trơn để khi lật thì chỉ thấy khung.
Mặt tên treo hai đầu thì ít lật hơn hẳn, nhưng nếu một đầu tên nặng hơn đầu kia (ví dụ tên bắt đầu bằng chữ hoa to và kết thúc bằng chữ thường nhỏ), tên sẽ hơi trễ về một bên. Thợ có thể bù bằng cách chỉnh vị trí khoen nối hai đầu, hoặc làm chữ cuối có đuôi kéo dài để cân lại.
Dấu tiếng Việt trên mặt tên: làm hay bỏ
Tên tiếng Việt có dấu thanh và dấu phụ: dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, dấu mũ của â, ê, ô, dấu móc của ơ, ư, dấu ngang của đ. Khi cắt chữ thành hình, mỗi dấu là một mảnh kim loại nhỏ tách rời khỏi thân chữ. Muốn nó không rơi, thợ phải nối dấu vào chữ bằng một cầu nối nhỏ, hoặc khéo léo cho dấu chạm vào nét chữ bên cạnh.
Chỗ cầu nối đó là điểm mảnh nhất của cả mặt tên. Dấu nặng nằm dưới chữ thì hay phải nối xuống nét dưới; dấu ngã là một nét lượn mảnh, dễ cong; dấu hỏi có móc nhỏ dễ vướng sợi vải. Vì vậy nhiều người chọn làm mặt tên không dấu, nhất là với kiểu chữ viết tay nối liền, nơi dấu chồng lên nét nối nhìn rối.
Nếu tên có dấu là phần quan trọng với bạn, có mấy cách làm cho bền: chọn kiểu chữ in hoa nét đậm để dấu có chỗ bám, nhờ thợ làm dấu dày hơn thân chữ một chút, hoặc chỉ giữ những dấu đổi nghĩa (ví dụ giữ dấu của chữ Đ, chữ Ư) và bỏ dấu thanh. Trước khi đồng ý làm, xin thợ cho xem bản vẽ cỡ thật có dấu, để thấy dấu có quá nhỏ so với chữ không.
Độ dày, kích thước và chỗ hay hỏng
Độ dày là thứ đầu tiên nên hỏi. Mặt tên cắt từ tấm kim loại quá mỏng sẽ cong khi bị đè, nhất là với tên dài. Mặt dày hơn chắc hơn nhưng nặng hơn và cần dây chắc hơn. Hỏi thợ độ dày định làm và xin cầm thử một mẫu có độ dày tương đương.
Đuôi chữ là điểm yếu. Các nét thò xuống như g, y, j hay nét thò lên như h, k, l ở chữ viết tay là chỗ hay cong hoặc móc vào áo. Chữ in hoa ít đuôi hơn nên ít chuyện hơn.
Điểm nối giữa các chữ. Ở mặt tên viết tay, các chữ được nối với nhau bằng nét liền. Nét nối càng mảnh, càng đẹp, nhưng cũng càng dễ gãy. Hỏi thợ có thể làm nét nối dày hơn ở mặt sau, nơi không ai thấy, để gia cố không.
Tên càng dài, mặt càng rộng. Tên dài có thể vượt chiều rộng hõm cổ, khiến hai đầu mặt chạm vào xương quai xanh và bị đẩy cong dần. Với tên dài, chọn cỡ chữ nhỏ hơn hoặc dùng tên gọi ngắn, tên thân mật.
Khoen nối hai đầu. Mặt tên treo hai đầu chịu lực ở hai khoen nối. Khoen hở dễ bị kéo mở; với mặt đeo hằng ngày, nhờ thợ hàn kín.
Đặt làm mặt tên: các bước từ chữ đến món đồ
Mặt tên thường được làm theo đơn, không có sẵn. Chuẩn bị kỹ một lần đỡ phải làm lại:
- Viết tên chính xác bằng chữ in hoa, ghi rõ có dấu hay không, viết hoa chữ nào. Gửi bằng văn bản, không chỉ nói miệng, để tránh nhầm chữ.
- Chọn kiểu chữ: xin xem vài mẫu kiểu chữ người làm có sẵn; nếu muốn chữ viết tay của người thân, chụp chữ ký hoặc chữ viết rõ nét, nền trắng.
- Thống nhất kích thước: chiều rộng toàn mặt, chiều cao chữ hoa, độ dày tấm kim loại, chất liệu và tuổi vàng.
- Duyệt bản vẽ cỡ thật trước khi cắt. In bản vẽ ra giấy đúng cỡ, đặt lên cổ trước gương để xem tên có vừa hõm cổ không.
- Thống nhất kiểu dây và cách nối: dây liền mặt hay mặt rời có móc, độ dài dây, kiểu khoá.
- Khi nhận, kiểm lại từng chữ, từng dấu, nét nối có nhẵn không, mặt có cong vênh không, khoen có hàn kín không. Sai chính tả phải báo ngay khi còn ở quầy.
Vì mặt tên là đồ làm riêng theo tên một người, khả năng đổi trả thường hẹp hơn đồ có sẵn. Hỏi rõ điều kiện làm lại khi sai chữ trước khi đặt cọc.
Chọn dây cho mặt chữ
Sợi dây quyết định chữ nằm có thẳng, có dễ đọc không:
- Mặt chữ đơn nhỏ: dây mảnh mắt tròn hoặc dây hộp nhỏ, độ dài để chữ nằm trên vùng ngực phẳng dưới xương quai xanh.
- Mặt chữ đơn trong khung: dây cỡ vừa; mặt khung nặng hơn chữ trơn nên cần dây chắc hơn một chút.
- Mặt tên treo hai đầu: dây có độ chắc vừa phải, hai nhánh dây nên đều nhau để tên nằm ngang.
- Đeo chồng với dây khác: đặt mặt chữ ở tầng ngắn nhất để chữ không bị dây dài che hoặc quấn.
- Người hay mặc áo cổ kín: mặt chữ nhỏ trên dây ngắn, để chữ nằm trên cổ áo thay vì bị che mất.
Dây quá trơn làm mặt chữ đơn dễ lật và lệch; nếu đã gặp chuyện đó, bài về mặt dây chuyền bị lật trong cùng danh mục có cách xử lý từng bước.
Câu hỏi thường gặp
Mặt dây chuyền chữ cái nên đeo chữ đầu tên mình hay tên người khác?
Tuỳ ý nghĩa bạn muốn. Nhiều người đeo chữ đầu tên mình như một dấu ấn cá nhân, nhiều người đeo chữ đầu tên con, tên người thương làm kỷ niệm. Không có quy ước nào bắt buộc; điều đáng cân nhắc hơn là chữ đó có dễ nghiêng hay dễ đọc ngược khi treo không.
Làm mặt tên có dấu tiếng Việt có bền không?
Bền nếu kiểu chữ đủ đậm và dấu được nối chắc vào thân chữ. Dấu là chi tiết nhỏ, cầu nối là chỗ mảnh nhất, nên với chữ viết tay mảnh hoặc tấm kim loại mỏng, dấu dễ cong. Xin xem bản vẽ cỡ thật và hỏi thợ cách nối dấu trước khi đặt.
Vì sao mặt chữ P, chữ F đeo lên bị nghiêng?
Các chữ này có phần kim loại dồn về một bên, nên khi treo móc ở giữa đỉnh chữ thì trọng tâm lệch và chữ nghiêng. Cách sửa là đặt móc treo đúng trọng tâm của chữ, hoặc chọn chữ trong khung tròn để khung giữ cân.
Mặt tên viết tay có dễ gãy không?
Dễ hơn chữ in hoa vì có nhiều nét nối mảnh và đuôi chữ. Làm từ tấm kim loại đủ dày, gia cố nét nối ở mặt sau và tháo khi ngủ, khi tập luyện sẽ giúp mặt tên giữ dáng lâu. Mặt cong nhẹ thì thợ thường nắn lại được.
Mặt dây chuyền chữ cái có hợp làm quà không?
Hợp, vì nó cá nhân mà không quá phô. Nếu không chắc người nhận thích kiểu chữ nào, chữ in hoa nét đậm hoặc chữ trong khung là lựa chọn an toàn, dễ phối. Nên giữ hoá đơn và hỏi trước điều kiện đổi, vì đồ làm theo tên thường khó đổi.
Có thể đổi mặt tên sang dây khác không?
Mặt tên làm kiểu dây liền mặt thì phải nhờ thợ tháo hai khoen nối rồi gắn vào dây mới. Nếu muốn linh hoạt, đặt mặt tên có hai khoen dạng mở được hoặc có móc ở giữa lưng để luồn dây, nhưng kiểu sau dễ nghiêng hơn.